Lịch sử phát triển của iPad

iPad của Apple được Steve Jobs cho ra mắt vào năm 2010 như là lời đáp cho câu hỏi mà ông đã đặt ra “Liệu có thể tạo ra một sản phẩm pha trộn giữa iPhone và MacBook không?”.

Vào thời điểm đó, nhiều người sẽ trả lời là “Không”. Nhưng sau khi iPad ra mắt, Apple đã bán được 3 triệu máy sau 80 ngày và Steve Jobs có lẽ từ lâu đã biết rõ câu trả lời cho vấn đề mà mình đặt ra.

Máy tính bảng iPad đã thay đổi ra sao kể từ khi nó được công bố lần đầu tiên vào năm 2010? Hãy cùng Quantrimang.com nhìn lại lịch sử phát triển của iPad qua bài viết sau đây!

Apple iPad (2010)

Apple iPad (2010)

  • CPU: ARM Cortex-A8 1GHz (Apple A4)
  • RAM: 256 MB
  • Màn hình: 1024x768
  • Model: WiFi và WiFi + 3G
  • Dung lượng: 16GB, 32GB, 64GB
  • Số model: A1219 (WiFi), A1337 (3G)

Được công bố vào tháng 1 năm 2010, chiếc iPad đầu tiên cung cấp một bản dựng bằng nhôm với các cạnh vuông - giống như những gì bạn thấy trên iPad Pro hiện tại, mặc dù các model đời mới mỏng hơn nhiều. Chiếc iPad này đi kèm với màn hình 9,7 inch, dày khoảng 13mm và nặng khoảng 680g.

Model 2010 sở hữu bộ xử lý Apple A4 tốc độ 1GHz và có dung lượng lưu trữ 16GB, 32GB hoặc 64GB, đồng thời hứa hẹn thời lượng pin lên tới 10 giờ. Giá khởi điểm là $499 (11.582.000VND) và có các phụ kiện, bao gồm một đế cắm bàn phím, cũng như một đế cắm tiêu chuẩn để biến iPad thành một "khung ảnh tuyệt vời".

Apple iPad 2 (2011)

Apple iPad 2 (2011)

  • CPU: ARM Cortex-A9 lõi kép 1GHz (Apple A5)
  • RAM: 512MB
  • Màn hình: 1024x768
  • Model: WiFi và WiFi + 3G
  • Dung lượng: 16GB, 32GB, 64GB
  • Số model: A1395 (WiFi), A1394 (3G GSM), A1394 (3G CDMA)

Thế hệ thứ hai của iPad đã được công bố một năm sau phiên bản đầu tiên, với thân máy mỏng hơn 33% - chỉ còn 8,8mm - và nhẹ hơn khoảng 50g, đưa trọng lượng của máy xuống mốc dưới 600g. Apple iPad 2 cũng có chip A5 lõi kép mới, được cho là hoạt động với tốc độ gấp đôi so với phiên bản đầu tiên, với card đồ họa nhanh hơn 9 lần và loa được định vị lại.

Sự khác biệt lớn nhất của iPad 2 so với model ban đầu là camera. Apple iPad 2 có camera trước và camera sau, cho phép gọi FaceTime và video. Điều này khá cơ bản so với các model hiện tại, nhưng thực sự là một “tiếng vang lớn” vào thời điểm đó.

Apple iPad 3 (2012)

Apple iPad 3 (2012)

  • CPU: ARM Cortex-A9 lõi kép 1GHz (Apple A5X)
  • RAM: 512 MB
  • Màn hình: 2056x1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 16GB, 32GB, 64GB
  • Số model: A1416 (WiFi), A1430 (4G), A1403 (4G VZ)

iPad thế hệ thứ ba xuất hiện vào năm 2012, với thiết kế vẫn giống như người tiền nhiệm, nhưng công nghệ màn hình được cải thiện rất nhiều. Apple gọi đó là "màn hình Retina" (cụm từ này hiện tại vẫn được tiếp tục sử dụng) và nó cung cấp gấp 4 lần số pixel của iPad 2, cũng như độ bão hòa màu lớn hơn.

Mẫu iPad này được trang bị một chip A5X mới, có bộ xử lý đồ họa được nâng cấp lên lõi tứ và độ phân giải của camera cũng được cải thiện - tăng từ 1MP lên 5MP. Các ứng dụng chuyên dụng trên App Store lên tới con số khoảng 200.000 khi model này ra mắt và chạy trên iOS 6.

Apple iPad 4 (cuối năm 2012)

Apple iPad 4 (cuối năm 2012)

  • CPU: Apple Swift lõi kép 1,4GHz (Apple A6)
  • RAM: 1GB
  • Màn hình: 2056x1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng lưu trữ: 16GB, 32GB, 64GB, 128GB
  • Số model: A1458 (WiFi), A1459 (4G), A1460 (4G MM)

Chỉ 6 tháng sau khi iPad 3 ra mắt, Apple đã công bố iPad 4. Nó khá giống với iPad 3, nghĩa là sở hữu màn hình Retina 9,7 inch tương tự, cấu trúc kim loại, có kích thước 241,2 x 185,7 x 9,4mm và nặng 652g, nhưng mẫu iPad này đã loại bỏ đầu nối dock 30 pin và giới thiệu Lightning.

Màn hình iPad 4 giống với iPad 3 (đều là màn hình Retina với độ phân giải 2048 x 1536), nhưng Apple đã trang bị cho iPad 4 bộ xử lý A6X mới, được cho là nhanh gấp 2 lần iPad 3. iPad 4 cũng đã thực hiện động thái hỗ trợ WiFi băng tần kép và một camera trước mới xuất hiện, chuyển từ VGA sang 1.2MPl.

Apple iPad mini (cuối năm 2012)

Apple iPad mini (cuối năm 2012)

  • CPU: ARM Cortex-A9 lõi kép 1GHz (Apple A5)
  • RAM: 512 MB
  • Màn hình: 1024x768
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 16GB, 32GB, 64GB
  • Số model: A1432 (WiFi), A1454 (4G), A1455 (4G MM)

Apple ra mắt iPad mini đầu tiên cùng với iPad 4, đánh dấu vùng “lãnh thổ” mới cho iPad. Vẫn giữ cấu trúc kim loại cao cấp, iPad mini nhỏ và nhẹ hơn đáng kể so với iPad tiêu chuẩn, kích thước 200 x 134,7 x 7,2mm và nặng 308g - chỉ bằng một nửa trọng lượng so với mẫu iPad đầu tiên. Các viền bezel xung quanh màn hình được giảm thiểu và Apple đã lập trình iOS để bỏ qua những lần người dùng vô tính nhấn ngón tay vào mép màn hình.

iPad mini có các cạnh cong và tròn hơn so với iPad nguyên bản, nhưng chỉ sở hữu độ phân giải của iPad 2 (màn hình kích thước 7.9 inch - 1024 x 768 pixel - thay vì màn hình Retina). iPad mini cũng sử dụng bộ xử lý A5 (có nghĩa là nó không mạnh bằng iPad 4). Ẩn đằng sau vẻ ngoài nhỏ bé của iPad mini là những tính năng vô cùng mạnh mẽ.

Apple iPad Air (2013)

Apple iPad Air (2013)

  • CPU: Apple A7 64-bit lõi kép 1,4GHz với bộ đồng xử lý chuyển động Apple M7
  • RAM: 1GB
  • Màn hình: 2056x1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 16GB, 32GB, 64GB, 128GB
  • Số model: A1474 (WiFi), A1475 (4G)

iPad thế hệ thứ năm của Apple được gọi là iPad Air và có thiết kế hoàn toàn mới, với các cạnh cong tương tự như iPad mini. Apple iPad Air nhẹ hơn 20% (chỉ 469g), mỏng hơn (7,5mm) và cũng ngắn hơn so với iPad 4, tạo nên một thiết bị mang tính di động hơn.

Apple iPad Air sở hữu màn hình 9,7 inch giống với iPad 4, nhưng Apple đã giảm bớt 43% viền bezel xung quanh màn hình, làm cho khu vực xem lớn hơn. Các camera trên iPad Air tương tự như iPad 4, nhưng model này sở hữu chip A7, có kiến trúc 64 bit, cho phép tự động lấy nét nhanh hơn, tốc độ khung hình video cao hơn, chụp ảnh nhanh hơn và rất nhiều các tính năng khác nữa.

Apple iPad Mini với màn hình Retina (2013)

Apple iPad Mini với màn hình Retina (2013)

Một năm sau khi iPad mini ra mắt, Apple đã giới thiệu iPad mini với màn hình Retina. Thiết kế vẫn giữ nguyên nhưng màn hình đã chuyển từ độ phân giải 1024 x 768 pixel sang độ phân giải 2048 x 1536 pixel, làm cho nó có độ phân giải cao nhất trong số các máy tính bảng có cùng kích thước.

Mẫu iPad mini với màn hình Retina này dày và nặng hơn một chút so với iPad mini đầu tiên - 7,5mm thay vì 7,2mm và 331g thay vì 308g - nhưng thiết kế không thay đổi. Dung lượng lưu trữ bao gồm tùy chọn 128GB và Apple cũng đã nâng cấp chip lên A7 - giống như bộ vi xử lý tương tự được tìm thấy trên iPad Air và iPhone 5S.

Apple iPad Air 2 (2014)

Apple iPad Air 2 (2014)

iPad Air thế hệ thứ hai cung cấp một thiết kế tương tự như model iPad Air ban đầu nhưng độ dày đã giảm xuống còn 6,1mm, mang lại cho nó danh hiệu máy tính bảng mỏng nhất có thể mua tại thời điểm đó. Apple iPad Air 2 cũng nhẹ hơn iPad Air thế hệ đầu tiên, chỉ nặng 437g.

Mặc dù kích thước và độ phân giải của màn hình vẫn giống như chiếc iPad Air đầu tiên, Air 2 đã giới thiệu lớp phủ chống phản chiếu, đồng thời nâng cấp chip từ A7 lên A8X. Thay đổi lớn nhất giữa Air và Air 2 là việc giới thiệu Touch ID. Air 2 là sản phẩm cuối cùng trong dòng iPad Air.

Apple iPad Mini 3 (2014)

Apple iPad Mini 3 (2014)

  • CPU: Apple A7 64-bit lõi kép 1,4GHz với bộ đồng xử lý chuyển động Apple M7
  • RAM: 1GB
  • Màn hình: 2056x1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 16GB, 64GB, 128GB
  • Số model: A1599 (WiFi), A1600 (4G)

iPad mini 3 xuất hiện cùng với iPad Air 2, nhưng tại thời điểm đó, Apple đã nhanh chóng làm giảm bớt tầm quan trọng của nó trong bài thuyết trình và tập trung vào model lớn hơn. Thiết kế vẫn giống như iPad mini 2, mặc dù Apple đã thêm Touch ID vào iPad mini 3.

Apple iPad Mini 3 không có bộ xử lý được nâng cấp, không có camera được cải tiến và cũng không có màn hình chống phản chiếu hay WiFi nhanh hơn so với iPad Air 2. iPad mini 3 là một bản nâng cấp nhỏ của dòng iPad mini.

Apple iPad Pro (2015)

Apple iPad Pro (2015)

  • CPU: Apple A9X 64-bit lõi kép 2,26GHz
  • RAM: 4GB
  • Màn hình: 12,9 inch với độ phân giải 2734 x 2048
  • Model: WiFi và WiFi + Cellular
  • Dung lượng: 32GB, 128GB, 256GB
  • Số model: A1584 (WiFi), A1652 (4G)

Apple iPad Pro đầu tiên được ra mắt vào năm 2015, một lần nữa đánh dấu “vùng lãnh thổ” mới cho iPad. Cung cấp màn hình 12,9 inch "khổng lồ" với tổng số 5,6 triệu pixel và tốc độ refresh thay đổi để giúp tiết kiệm năng lượng, iPad Pro là một “con quái vật” trong thế giới máy tính bảng. Nó có thiết lập âm thanh 4 loa (tốt hơn so với thiết lập loa kép trên iPad Air 2), cho phép tăng âm lượng gấp 3 lần và chip A9X 64 bit (nghĩa là iPad Pro nhanh hơn 1,8 lần so với iPad Air 2).

Bên cạnh cấu trúc kim loại cao cấp, iPad Pro mỏng 6,9mm có Smart Connector (đầu nối thông minh) để kết nối bàn phím chuyên dụng, cho phép truyền năng lượng và dữ liệu. Bút stylus đầu tiên của Apple cũng được giới thiệu cùng với iPad Pro có tên Apple Pencil. Nó có thể sạc trực tiếp từ cổng Lightning của iPad Pro.

Apple iPad Mini 4 (2015)

Apple iPad Mini 4 (2015)

  • CPU: Apple A8X 64-bit lõi tam 1,5GHz với bộ đồng xử lý chuyển động Apple M8
  • RAM: 2GB
  • Màn hình: 2056 x 1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 16GB, 64GB, 128GB
  • Số model: A1538 (WiFi), A1550 (4G)

Apple iPad mini 4 đã thành công hơn so với iPad mini 3 vào năm 2015, mặc dù sau đó không ai biết rằng đây sẽ là chiếc mini cuối cùng trong một thời gian. IPad mini 4 mỏng và nhẹ hơn iPad mini 3, được trang bị màn hình laminate, lớp phủ chống phản chiếu như Air 2.

Apple cũng đã nâng cấp chip trong iPad mini 4 lên bộ xử lý A8 với bộ đồng xử lý chuyển động M8 và độ phân giải của camera sau cũng được cải thiện. Ngoài ra, thiết kế vẫn giống như chiếc iPad mini trước đây. Tin đồn về mẫu iPad mini 5 cũng đã xuất hiện.

Apple iPad Pro 9.7 (2016)

Apple iPad Pro 9.7 (2016)

  • CPU: Apple A9X 64-bit lõi kép
  • RAM: 2GB
  • Màn hình: 9,7 inch với độ phân giải 2056 x 1536
  • Model: WiFi và WiFi + Cellular
  • Dung lượng: 32GB, 128GB, 256GB
  • Số model: A1673 (WiFi), A1674 hoặc A1675 (4G)

Nhiều người cho rằng model iPad này sẽ được gọi là iPad Air 3, nhưng thay vào đó, nó lại gia nhập dòng iPad Pro. Thiết bị 9,7 inch này được gọi là iPad Pro 9.7, model nhỏ hơn của mẫu 12,9 inch đã ra mắt trước đó 1 năm. IPad Air 3 có cùng cấu trúc nhôm mỏng và cảm biến vân tay Touch ID, nhưng đi kèm với một tùy chọn màu mới: Vàng hồng.

iPad Pro 9.7 có cùng kích thước và độ phân giải màn hình như iPad Air 2, nhưng được thêm độ bão hòa màu lớn hơn 25%, đánh dấu sự khởi đầu cho công nghệ True Tone của Apple - hiện đã có trên những mẫu iPhone mới nhất. Thông số kỹ thuật của camera cũng được nâng cấp cho mẫu iPad Pro 9.7 và có sức mạnh tương đương với model 12.9 inch kích thước lớn hơn, khiến nó trở thành tùy chọn mạnh hơn đáng kể so với mẫu Air 2 mà nó thay thế.

Apple iPad (2017)

Apple iPad (2017)

  • CPU: Apple A9 64-bit lõi kép 1.85Ghz
  • RAM: 2GB
  • Hiển thị: 2056 x 1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 32GB, 128GB
  • Số model: A1822 (WiFi), A1823 (4G)

Mẫu iPad này của Apple đã được công bố lặng lẽ vào tháng 3 năm 2017, xếp trên iPad mini 4, nhưng dưới dòng iPad Pro. Về cơ bản, nó là model thay thế iPad Air 2, nhưng Apple đã bỏ bớt chữ "Air" trong tên. Mẫu iPad này có thiết kế tương tự iPad Air 2, mặc dù dày hơn một chút, nhưng điều đó là do model này thiếu màn hình chống phản chiếu laminate.

Apple iPad (2017) cũng thiếu công nghệ True Tone, được tìm thấy trên các mẫu iPad Pro và không có màu vàng hồng, cũng không có cải tiến gì về độ phân giải camera sau. Apple đã giảm giá khởi điểm của iPad này - £339 (8.743.000VND) vào thời điểm phát hành, rẻ hơn £40 (1.032.000VND) so với giá khởi điểm của iPad Air 2.

Apple iPad Pro 10.5 (2017)

Apple iPad Pro 10.5 (2017)

  • CPU: Apple A10X Fusion 64-bit 6 lõi
  • RAM: 4GB
  • Màn hình: True Tone 10,5 inch với độ phân giải 2734 x 2048
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 64GB, 256GB, 512GB
  • Số model: A1701 (WiFi), A1709 (4G)

Apple iPad Pro 10.5 đã đến với WWDC năm 2017, cùng với bản cập nhật thông số kỹ thuật cho Apple iPad Pro 12.9. iPad Pro 10.5 được thiết kế để thay thế cho mẫu iPad Pro 9,7 inch của năm 2016, cung cấp màn hình lớn hơn 20% và giảm 40% viền bezel. Hai mẫu này có nhiều đặc điểm giống nhau, bao gồm thiết lập 4 loa, Smart Connector và tùy chọn màu vàng hồng.

Bên trong là bộ xử lý A10X Fusion và bộ đồng xử lý chuyển động M10, được khẳng định là có hiệu suất tăng lên 30% so với A9 và nhanh hơn 40% khi xử lý đồ họa. Các tùy chọn dung lượng lưu trữ bao gồm 64GB, 256GB và 512GB, tương thích với Apple Pencil giống như các mẫu Pro 12,9 inch và 9,7 inch cũ.

Apple iPad Pro 12.9 (2017)

Apple iPad Pro 12.9 (2017)

  • CPU: Apple A9X 64-bit lõi kép 2,26GHz
  • RAM: 4GB
  • Màn hình: 12,9 inch với độ phân giải 2734 x 2048
  • Model: WiFi và WiFi + Cellular
  • Dung lượng: 32GB, 128GB, 256GB
  • Số model: A1584 (WiFi), A1652 (4G)

Không giống như Apple iPad Pro 10.5, bản cập nhật iPad Pro 12.9 không có thiết kế mới. Các viền bezel, cũng như thiết kế và kích thước màn hình tổng thể của nó vẫn giữ nguyên (điều này gây ra một chút thất vọng). Đó là một thiết bị lớn và nặng nên nhiều người dùng mong muốn thấy Apple thực hiện một số bước cải tiến để làm cho iPad Pro 12.9 dễ mang theo hơn, chẳng hạn như giảm kích thước viền bezel như model 10.5.

Bản cập nhật iPad Pro 12.9 inch chỉ thấy các nâng cấp bên trong. Thay thế chip A9X là bộ xử lý A10X Fusion - giống như được tìm thấy trong model 10,5 inch. Model 12,9 inch mới cũng cung cấp các thông số kỹ thuật và phần mềm camera tương tự như iPad Pro 10,5 inch.

Apple iPad (2018)

Apple iPad (2018)

  • CPU: Apple A10 Fusion 64-bit lõi tứ 2,34 Ghz
  • RAM: 2GB
  • Màn hình: 2056 x 1536
  • Model: WiFi và WiFi + 4G
  • Dung lượng: 32GB, 128GB
  • Số model: TBD

iPad tiêu chuẩn 2018 được thiết kế như một phiên bản kế nhiệm của model năm 2017, cung cấp thiết kế giống với iPad Air 2. Nó không có màn hình laminate và lớp phủ chống phản chiếu, nhưng có hỗ trợ cho Apple Pencil thế hệ đầu tiên.

Apple iPad 2018 bỏ lỡ một số tính năng của iPad Pro, bao gồm công nghệ kết nối True Tone và Smart Connector, cũng như không có tùy chọn màu vàng hồng, nhưng vẫn rẻ hơn đáng kể so với các model Pro, nhắm vào sinh viên. Apple iPad 2018 cũng đã nâng bộ vi xử lý của model 2017 lên A10.

Apple iPad Pro 11 (2018)

Apple iPad Pro 11 (2018)

  • CPU: Chip A12X Bionic với Neural Engine
  • RAM: 4GB (model 1TB bao gồm 6GB)
  • Màn hình: 2388 x 1668
  • Model: WiFi và WiFi + Cellular
  • Dung lượng: 64GB, 256GB, 512GB, 1TB
  • Số model: TBD

Apple iPad Pro 11 đã xuất hiện vào năm 2018 nhưng nó được thiết kế để "ngồi ngang hàng” với model iPad Pro 10.5 chứ không phải tùy chọn thay thế. Cung cấp một thiết kế hoàn toàn mới, iPad Pro 11 giảm bớt các viền bezel và là mẫu iPad đầu tiên có Face ID. Apple iPad Pro 11 cũng hoán đổi Lightning thành USB Type-C.

iPad Pro 11 sở hữu màn hình Liquid Retina, cung cấp độ phân giải 2388 x 1668 và tương thích với Apple Pencil 2. Nó cũng mạnh hơn một chút so với model Pro 10,5 inch, có bộ xử lý A12X Bionic, cùng với tùy chọn model 1TB và camera cải tiến.

Apple iPad Pro 12.9 (2018)

Apple iPad Pro 12.9 (2018)

  • CPU: Chip A12X Bionic với Neural Engine
  • RAM: 4GB (model 1TB bao gồm 6GB)
  • Màn hình: 2732 x 2048
  • Model: WiFi và WiFi + Cellular
  • Dung lượng: 64GB, 256GB, 512GB, 1TB
  • Số model: TBD

Không giống như bản cập nhật đầu tiên cho iPad Pro 12,9 inch, bản cập nhật thứ hai được công bố vào năm 2018, đã thực hiện một số thay đổi lớn. Kích thước màn hình chuyển từ 305,7 x 220,6 x 6,9mm sang 280,6 x 214,9 x 5,9mm.

iPad Pro 12.9 2018 cũng giảm được 44g trọng lượng, Face ID thay thế Touch ID, Lightning được thay thế bằng USB Type-C và hỗ trợ Apple Pencil thế hệ thứ hai (nghĩa là bút stylus có thể gắn từ tính vào cạnh của iPad Pro 12.9) và sạc không dây. Một màn hình Liquid Retina cũng được giới thiệu với các góc tròn và chip A12X Bionic. Tùy chọn 1TB cũng được cung cấp như model 11 inch nhỏ hơn.

Thứ Năm, 08/08/2019 08:12
51 👨 104