Đánh giá ampli No.53 - sản phẩm chủ đạo của Mark Levinson

No.53 được xem là sản phẩm có chất lượng âm thanh tốt nhất trong lịch sử ampli của Mark Levinson.

Mark Levinson là một trong những thương hiệu âm thanh xếp vào hàng "cổ thụ" lại chọn mạch khuếch đại "switching" đầy mạo hiểm cho thiết kế ampli No53. Sản phẩm không trang bị mạch khuếch đại switching truyền thống mà thay vào đó là một thiết kế đặc biệt hoàn toàn mới giúp triệt tối đa những nhược điểm của ampli Class D.

Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu dày công của cả một đội ngũ chuyên viên điện tử ở tập đoàn mẹ Harman International.

Đánh giá ampli No.53 - sản phẩm chủ đạo của Mark Levinson
Dàn cánh tản nhiệt bố trí dày đặc ở 2 bên ampli.

No.53 sở hữu biến thế nguồn lớn 2.8kVA với hệ thống tụ lọc 200.000uF! Phần công suất được bố trí ở phần đáy của tháp và được cô lập bởi một lớp vỏ chống nhiễu riêng. Bên cạnh đó, còn phải kể đến dàn cánh tản nhiệt bố trí dày đặc ở 2 bên ampli.

Mark Levinson No.53 có giá tham khảo khoảng 50.000 USD một cặp.

Công nghệ khuếch đại switching trên No 53
Thiết kế ampli No 53
Thử nghiệm ampli No 53

Công nghệ khuếch đại switching trên No 53.

Mạch khuếch đại switching (tạm gọi là mạch công suất đảo) được đặt tên theo phương thức hoạt động của nó, các bán dẫn sẽ được bật/tắt hoàn toàn và liên tục. Khác biệt so với các thiết kế mạch ampli tuyến tính truyền thống, các bán dẫn trong ampli thông thường sẽ tồn tại ở nhiều trạng thái dẫn điện khác nhau, dòng điện đi qua bán dẫn là dạng "nhái" lại của tín hiệu sóng âm.

Đối với mạch khuếch đại switching, lượng thời gian mà các bán dẫn đầu ra được bật sẽ quyết định biên độ của sóng âm. Tín hiệu khuếch đại đầu ra của bán dẫn là một chuỗi các xung ở dải tần cao sau đó được "gọt giũa" bởi mạch lọc để tạo thành dạng sóng âm analog.

Mạch lọc cũng đóng vai trò lược bỏ những nhiễu noise và nhiệu dải tần trong mạch đảo. Chính vì thế, mạch lọc filter trong kỹ thuật khuếch đại switching cần được thiết kế rất cẩn trọng, ngoài ra, mạch DC cung cấp dòng cho các bán dẫn công suất được đảo và dẫn tín hiệu dòng ra trực tiếp loa nên những nhiễu noise hay nhiễu dải tần sẽ xuất hiện ngay trong quá trình tái tạo âm thanh của loa.

Đánh giá ampli No.53 - sản phẩm chủ đạo của Mark Levinson
Mạch khuếch đại switching (tạm gọi là mạch công suất đảo) được đặt tên theo phương thức hoạt động.

Một thách thức khác của mạch khuếch đại switching là việc đồng hóa giữa các bán dẫn mang tín hiệu nửa cực dương và các bán dẫn mang nửa cực âm của sóng âm.

Khi một bán dẫn tắt hoàn toàn ở điểm cắt zero của sóng âm để chuyển tiếp tín hiệu sang một bán dẫn bù tiếp theo, quá trình này sẽ tạo nên một khoảng trống thời gian mà người ta thường gọi là "dead bands" - những băng tần chết, lúc đó không có bán dẫn nào làm nhiệm vụ khuếch đại tín hiệu.

Như vậy, mỗi chu kỳ của sóng âm sẽ có hai điểm băng tần chết và 2 điểm này không được khuếch đại. Toàn bộ quá trình này có thể hiểu đơn giản như trong một cuộc chạy marathon tiếp sức mà người chạy đầu tiên không thể trao tín gậy cho người chạy tiếp theo.

Việc tăng khoảng thời gian bật các bán dẫn để tín hiệu của thể duy trì liền nhau là giải pháp không được chấp nhận bởi nếu 2 bán dẫn liền nhau cùng ở trạng thái bật "on" dù chỉ trong vài micro giây cũng đủ làm hỏng toàn bộ ampli.

Sự chính xác trong quá trình bật và tắt các bán dẫn liền kề nhau ảnh hưởng trực tiếp không chỉ đến chất lượng âm thanh trình diễn mà còn sự an toàn của ampli. Chính vì thế đôi khi, một số nhà sản xuất chấp nhận hy sinh chất lượng âm thanh để đạt hiệu quả ổn định và tính an toàn trong các ampli chạy mạch khuếch đại đảo switching.

Mark Levinson No.53 được ứng dụng công nghệ đặc biệt có đăng ký bản quyền sáng chế mang tên "Interleaved Power Technology" (IPT tạm dịch kỹ thuật là khuếch đại chèn).

Mark Levinson sở hữu 4 khuếch đại đảo riêng biệt, được thiết kế sao cho hoạt động của các khuếch đại này sẽ chen vào khuếch đại switching khác, như vậy, trong khi mạch khuếch đại đảo này đang rơi vào điểm băng tần chết, thì mạch khuếch đại khác vẫn làm nhiệm vụ dẫn và khuếch đại dòng, kết quả là không bao giờ xảy ra hiện tượng có một bán dẫn nào trong một mạch khuếch đại đảo không dẫn dòng. Và sẽ không có hiện tượng 2 bán dẫn được bật "on" đồng thời gây hỏng ampli, vì nếu có, nó cũng đã nằm ở 2 mạch khuếch đại switching khác nhau.

Mỗi một khuếch đại đảo switching trong bộ bốn mạch switching bên trong Mark Levinson No.53 có tần suất đảo rất cao lên đến 1MHz (đây chính là tốc độ mà các bán dẫn bên trong mạch switching được bật/tắt) và khi kết hợp công nghệ khuếch đại chèn IPT, tần suất này tăng lên gấp 4 lần đạt tốc độ cực nhanh lên đến 4MHz.

Một ưu điểm rất quan trọng khác của mạch IPT với tuần suất lên đến 4MHz, nó sẽ đẩy những nhiễu tín hiệu dải cao trong quá trình khếch đại đảo vượt ngưỡng nghe của con người, như vậy nó không gây bất kỳ ảnh hưởng nào đến chất lượng âm thanh. Thự tế, Mark Levinson No.53 đạt dải tần hoạt động lên đến 100KHz được xem là chỉ số mà chưa có thiết kế ampli Class D/Switching đạt được.

Thiết kế ampli No 53
Thử nghiệm ampli No 53

Thiết kế ampli No.53.

Với thiết kế khá đồ sộ, cân nặng gần 70kg và sở một dàn cánh tỏa nhiệt khủng bao quanh thân máy tương tự như những ampli "pure" Class A.

Tuy nhiên, không có một ampli thuần Class A nào với cùng kích thước và trọng lượng như No.53 lại có khả năng cung cấp một nguồn năng lượng dồi dào 500W / 8ohm (1000W / 4ohm).

Đánh giá ampli No.53 - sản phẩm chủ đạo của Mark Levinson
Thiết kế mặt trước và mặt sau của No53.

Mark Levinson tiếp tục sử dụng kiểu "tòa nhà chọc trời" hay một số audiophile thương gọi "máy hàn điện" có từ thời của ampli No.33 vào giữa những năm 1990. Tháp ampli No.53 sở hữu logo Mark Levinson ở mặt máy, logo này sẽ sáng lên ánh đỏ khi bật công tắc nguồn ở phía trước. Một công tắc nguồn thứ 2 được bố trí ở phía sau cho phép tắt hoàn toàn ampli khỏi chế độ chờ Stand-by.

No.53 có tất cả 4 trạng thái vận hành bào gồm: tắt, mở, stand-by và tiết kiệm năng lượng, khi đó ampli sẽ tắt tất cả những mạch khuếch đại, chỉ duy trì phần nguồn điện cung cấp và khả năng liên lạc qua các cổng in/out. Trong khi ở chế độ Stand-by, thực chất là chế độ chạy hoàn toàn các bo mạch bên trong No.53 chỉ "mute" phần out-put.

Các cổng giao tiếp của Mark Levinson No.53 gồm có kết nối Ethernet, cổng in/out Link2 (đây là cổng giao tiếp đặc biệt giữa các thiết bị của Mark Levinson), cổng in/out trigger 12V kích nguồn.

Cổng Ethernet cho phép kết nối No.53 với mạng nội bộ LAN, người dùng có thể sử dụng một máy tính nối cùng mạng LAN, sau đó truy nhập và kết nối với ampli No.53 để thực hiện một số tương tác như hiệu chỉnh độ sáng của logo và kiểm tra lỗi sự cố.

Ngoài ra, Ethernet còn giúp các thiết bị của Mark Levinson kết nối với ML network, một mạng cho phép đồng hóa việc vận hành cùng với các sản phẩm hỗ trợ ML network khác của Mark Levinson.

Nếu người dùng không sử dụng kết nối Ethernet, các thiết bị Mark Levinson vẫn có thể "hiểu" và đồng bộ với nhau qua cổng Link2, tuy nhiên sẽ khổng thể "chuẩn đoán" chế độ hoạt động của máy. Mặt sau của Mark Levinson No.53 gồm có 2 ngõ vào tín hiệu RCA và XLR cùng với 2 cầu nối loa dạng biding post đúng chuẩn đồ lớn.

Công nghệ khuếch đại switching trên No 53
Thử nghiệm ampli No 53

Thử nghiệm No.53.

Thử nghiệm No.53 với 3 đôi loaVandersteen 7s, B&W 802Ds và Rockport Altairs. Đầu tiên, độ cân bằng các dải của Mark Levinson No.53 có cá tính riêng với một dải trầm mở cực rộng, chắc, trung âm khá êm, dải mid high và dải cao được tái hiện gần gủi, sinh động và đạt độ trung thực cao.

Ampli trình diễn với ưu điểm đáng kể nhất là khả năng kiểm soát độ động và đặc biệt là dải tần thấp rất ổn định, kết hợp với các nhịp điệu âm sống động, nhất là những tiếng trống. Với track Blues Be Out từ album duy nhất của tay trống David Garibidi, những tiếng trống mang phong cách "rock-solid" được ampli thể hiện mạnh mẽ.

Độ động của No.53 là rất tốt xuyên suốt toàn bộ dải tần. Tiếng của các trống da qua các giai điệu Pop được tái hiện rõ nhưng dứt rất nhanh như thể nó nhảy ra từ toàn bộ không gian âm nhạc. No53 tái hiện track Nojima Plays Liszt trong album RR – Reference Recordings một cách dễ dàng, tiếng gõ của đàn Piano được tái tạo rất chuẩn, các nốt được dựng lên với độ sắt, cao nhưng rất nhanh rất gần với tiếng đàn thật.

Bên cạnh khả năng tái hiện độ động, Mark Levinson No.53 còn gây ấn tượng ở dải tần từ high mid đến low treble, rất gần gũi, nhẹ nhàng và sống động. Trong khoảng dải tần này, âm thanh tái tạo sẽ thường tập hợp ở vị trí trung tâm của sân khấu.

Với Hey Nineteen của Steely Dan, đây được xem là track thử quen thuộc suốt nhiều thập kỷ qua, No.53 đã đưa được tiếng hi-hat (nhạc cụ tương tự như cymbal) tốt, nhiều chi tiết. Tiếng hit-hat như "nhảy ra" từ sân khấu trình rất rõ và tách bạch so với với không gian tổng thể sân khấu cũng như không gian của các nhạc cụ khác.

Dẫn chứng thứ 2 là từ bản thu Temptation trong album The Girl In The Other Room của Dianal Krall. Trong track này, Anthoney Wilson trình diễn guitar mộc mạc bên cạnh giọng ca của Diana Krall, Mark Levinson No.53 đã làm cho tiếng guitar nổi bật hơn, rõ nét hơn và tạo nên một bản thu hấp dẫn hơn.

Không gian cũng là một ưu điểm đáng kể khác của Mark Levinson No.53, nó không chỉ làm rõ độ focus của giọng hát, nhạc cụ... mà còn tả thực cả không gian âm thanh viền xung quanh.

Với bản thu Confirmation – Chiz Harris Quartet, không gian thu âm được bố trí một cặp micro ngay phía trên tay trống, với Mark Levinson No.53, ampli có thể tạo được chính xác vị trí tiếng của từng cái trống trong không gian sân khấu.

Ưu điểm trình diễn của No.53 còn giúp người nghe hiểu rõ hơn ý đồ của nhạc trưởng cũng như cảm nhận tốt hơn giá trị rất lớn, rất cầu kỳ của những bản giao hưởng.

Công nghệ khuếch đại switching trên No 53
Thiết kế ampli No 53
Thứ Năm, 02/06/2011 07:15
31 👨 814
0 Bình luận
Sắp xếp theo